Với hệ điều hành (HĐH) Ubuntu Linux, việc lựa chọn phiên bản, cấu trúc, cấu hình máy tính cho đến cách thức phân vùng cài đặt trước khi sử dụng sao cho phù hợp cũng là những yếu tố quyết định để mang lại hiệu năng làm việc cao nhất cho người dùng. Bài viết sau sẽ giúp chúng ta thêm tự tin hơn để có thể thực hiện bước đầu tiên khi dùng HĐH miễn phí này.
1. Cấu trúc - Loại máy tính
Cấu trúc của máy vi tính chính là loại vi xử lí (processor) hiện có trong máy vi tính đó. Một chương trình được viết ra cho cấu trúc máy tính A chưa chắc có thể thực hiện được trên cấu trúc máy tính B, có nghĩa là các cấu trúc máy tính khác nhau sẽ không tương hợp lẫn nhau. Hiện tại, Ubuntu Linux đã chính thức hỗ trợ nhiều cấu trúc vi tính x86 32 bits và x86 64 bits, PowerPC, HPPA, ia64 và SPARC. Trong trường hợp đặc biệt, các hệ điều hành và phần mềm được viết ra dành cho cấu trúc x86 32 bits (version 32bits) có thể thực thi được trên cấu trúc máy tính x86 64 bits nhưng ngược lại, các hệ điều hành và phần mềm được viết ra dành cho x86 64 bits thì không thể thực thi trên x86 32 bits. Tuy nhiên, trên một vài cấu trúc máy tính, bạn có thể cài đặt Ubuntu 32 bits hoặc Ubuntu 64 bits nhưng nếu bạn là người mới bắt đầu làm quen thì nên cài đặt Ubuntu 32 bits bởi vì bản Ubuntu 64 bits vẫn còn có một số hạn chế và sự không tương thích mà việc khắc phục chúng không phải là điều dễ dàng đối với người mới học.
2. Lựa chọn phiên bản cài đặt Ubuntu nào là hợp lý nhất?
Để cài đặt các phiên bản mới nhất của Ubuntu, bạn có hai sự lựa chọn, phiên bản "Stable - ổn định" và phiên bản "LTS - Long Term Support - Hỗ trợ dài hạn". Hai phiên bản cùng tồn tại song hành nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người sử dụng bởi chúng có sự khác biệt:
• Phiên Stable: bao gồm các phiên bản phần mềm và những cải tiến mới nhất dành cho distribution này. Các phiên bản ổn định của Ubuntu được hỗ trợ chỉ có 18 tháng cho việc cập nhật, khắc phục lỗi và các miếng vá bảo mật,...
• Phiên bản LTS: là những phiên bản Ubuntu dành cho các đối tượng người dùng cá nhân và doanh nghiệp được hỗ trợ tới 3 năm (riêng phiên bản server được hỗ trợ 5 năm). Xét đến các đối tượng người dùng này thì họ không cần các phiên bản phần mềm mới nhất và cũng không muốn update Ubuntu mỗi 6 tháng (mất thời gian, có thể có các nguy cơ về bảo mật...). Khi cài đặt một bản update, hệ điều hành có thể sẽ xuất hiện nguy cơ không ổn định hoặc có những lỗ hổng bảo mật mới. Phiên bản LTS mới nhất của Ubuntu là: Ubuntu 8.04 LTS «Hardy Heron».
Do vậy, phiên bản LTS đáng để bạn lựa chọn nhất và hiện tại thì Ubuntu có các nhánh rẽ với các tên mới là Ubuntu, Xubuntu, Kubuntu, Gobuntu và Edubuntu hướng tới nhiều đối tượng người dùng hơn từ dân kỹ thuật đến học sinh - sinh viên. Nhưng bạn nên cài Ubuntu để làm quen trước rồi sau đó chuyển sang các phiên bản nhánh thì sẽ tốt hơn vì Ubuntu có tính năng chuyển đổi qua lại giữa các nhánh rẽ này nhanh chóng khi chỉ cần vài dòng lệnh mà không cần phải cài mới từ đầu.
3. Lựa chọn loại đĩa và cấu hình tối thiểu để cài đặt Ubuntu:
Đối với các máy vi tính có bộ nhớ dưới 256MB RAM, chúng ta nên sử dụng đĩa «Alternate» CD-ROM Ubuntu GNU/Linux vì đĩa này sẽ không tải trình quản lý cửa sổ mà cài đặt trực tiếp lên đĩa cứng ngay trong lần khởi động đầu tiên từ CD cài đặt. Đối với các máy tính sở hữu từ 256MB RAM trở lên thì bạn nên dùng đĩa «Desktop» vì loại đĩa này ngoài tính năng có thể dùng CD Live, còn có thể cài đặt ngay trong giao diện hệ điều hành nên rất tiện dụng khi bạn muốn thử Ubuntu trước khi quyết định cài đặt vào ổ cứng.
Để cài đặt Ubuntu Linux thì máy tính của bạn phải sở hữu tối thiểu 192MB RAM. Nếu cấu hình cao hơn (khoảng từ 512MB) thì máy tính của bạn có thể cài đặt nhanh chóng, sử dụng ổn định và chạy trơn tru các ứng dụng. Tuy nhiên, để hiệu năng làm việc của Ubuntu mạnh thêm bạn cần chú ý thêm lựa chọn phân vùng Swap được đề cập ở phần tiếp theo.
4. Phân vùng ổ cứng và lựa chọn kiểu cài đặt Ubuntu
Cài đặt Ubuntu song song với Windows mà không cần chia ổ đĩa
Với sự trợ giúp của tiện ích miễn phí Wubi, bạn có thể cài đặt và remove Ubuntu dễ dàng như một phần mềm ứng dụng thông thường ngay trong Windows mà không sợ bất cứ một rủi ro nào đối với máy tính, điều khá đặc biệt là việc cài đặt Ubuntu thông qua Wibi chỉ trải qua có 3 bước, không cần đĩa cài đặt, không tốn công phân vùng ổ cứng.
Bước 1: Tải về bản mới nhất của Wubi tại địa chỉ: [Chỉ có thành viên mới thấy links này. ], (hiện Wubi đã có phiên bản 8.04.1).
Bước 2: Sau khi tải về bạn không cần cài đặt mà chỉ việc kích hoạt để chạy. Trước khi bấm nút Install để cài đặt, bạn nhập Username và Password cũng như các thông số ổ đĩa cài đặt (Installation Drive, dung lượng (Installation Size), môi trường làm việc (Desktop Environment) và ngôn ngữ. Quá trình cài đặt sẽ tự động diễn ra, và bạn hãy kết nối Internet suốt quá trình này để quá trình tải về và update Ubuntu và driver diễn ra suôn sẻ.
Bước 3: Chọn Reboot Now > Finish để khởi động lại và bắt đầu sử dụng Windows và Ubuntu song song thông qua menu dual boot trong lúc khởi động rất tiện để bạn lựa chọn.
Hiện tại, phiên bản Ubuntu 8.04 có tích hợp tiện ích Wubi ngay trong đĩa cài đặt nên rất tiện để bạn cài offline khi không có mạng internet.
Cài mới hoàn toàn Ubuntu trên một phân vùng riêng:
Việc cài đặt Ubuntu trên một phân vùng riêng chạy ổn định hơn so với cài ngay trong Windows. Sau đây là những thao tác cụ thể của việc phân vùng cho việc cài đặt HĐH Ubuntu bằng Norton PartitionMagic trong Hiren Boot CD. Điểm khá hay của Ubuntu là HĐH này nhân Linux nên việc bổ sung thêm phân vùng Swap sẽ làm cho HĐH chạy mượt hơn trong điều kiện máy tính bộ nhớ RAM yếu.
Trước hết, bạn khởi động máy tính trong chế độ ưu tiên boot bằng đĩa CD-ROM. Tại menu bạn chọn Start BootCD > Disk Partition Tools > PartitionMagic Pro 8.05 để bắt đầu quá trình phân vùng ổ cứng. Bạn trải qua 2 bước như sau:
Bước 1: Tạo phân vùng Swap.
Bạn tạo mới một phân vùng chọn làm Logical Partition, loại Linux Swap kích cỡ từ 512 trở lên tùy dung lượng ổ cứng còn trống để đạt hiệu năng cao nhất. Tiếp theo bấm OK.
Bước 2: Tạo phân vùng cài đặt (ROOT)
Phân vùng này bạn có thể chọn là Primary hay Logical đều được, nhưng partition type phải là định dạng Linux Ext2 hay Linux Ext3, bạn đặt Label là ROOT để tiện nhận dạng trong lúc cài đặt, dung lượng phân vùng từ 3GB trở lên tùy bạn lựa chọn và bấm OK để hoàn tất.
Để lưu lại quá trình này, bạn chọn Apply > Yes và khởi động lại máy bắt đầu cài đặt Ubuntu.
Tiếp theo, bạn bỏ đĩa cài đặt Ubuntu vào ổ CD và chọn Install Ubuntu để bắt đầu cài đặt, tới bước chọn Prepare Disk Space bạn chọn Manual và chọn vào phân vùng ROOT đã thiết lập và tiến hành các bước cài đặt theo hướng dẫn.
Một vấn đề nảy sinh trong quá trình sử dụng song song giữa Windows và Ubuntu là khi bạn cài lại hay xóa Windows làm cho menu Ubuntu Grub Bootloader bị mất làm bạn không thể vào HĐH Ubuntu được thì bạn có thể áp dụng thủ thuật sau để khôi phục lại. Thao tác như sau:
- Khởi động vào Ubuntu bằng Ubuntu Live CD.
- Mở Terminal và gõ dòng lệnh sau:
sudo grub
> root (hd0,0)
> setup (hd0)
> exit
Sau đó khởi động lại máy tính, menu dual boot sẽ hiện ra sau đó.
Nếu bạn cài Ubuntu trước Windows thì HĐH này sẽ không nhận được bất cứ thông tin gì về Windows cài sau đó, do vậy để cho hiện ra menu boot dual, bạn dùng cách mở file menu.lst với lệnh:
sudo gedit /boot/grub/menu.lst
Sau đó, bạn gõ lại như sau:
# title Windows XP Professional / Vista
# root (hd0,0)
# makeactive
# chainloader +1
Với hd0,0 là nơi ổ cứng và phân vùng cài đặt của Windows. Nếu bạn cài Windows trên phân vùng thứ 4 của ổ đĩa thì gõ là (hd0,3).
Chúc các bạn khám phá thành công HĐH này.
Linux Swap là gì? Nói một cách dễ hiểu là khi máy tính cần chạy những chương trình lớn hơn khả năng có thể của bộ nhớ vật lý (RAM), hệ điều hành sẽ sử dụng một công nghệ có tên gọi swapping. Nói nôm na thì công nghệ này sẽ dùng đến những mảng bộ nhớ tạm được lưu trên đĩa cứng, trong khi phần dữ liệu khác vẫn được chuyển vào RAM. Công nghệ này giúp bạn quản lý việc hoán đổi (swapping) tốt hơn cũng như tăng hiệu năng sử dụng. Linux nói chung và Ubuntu nói riêng chia bộ nhớ vật lý thành các pages swapping là một tiến trình thực hiện việc copy một page của bộ nhớ đến một không gian đã được cấu hình trước trên đĩa cứng (gọi là swap space), để giải phóng các pages của bộ nhớ. Tổng dung lượng của RAM và không gian hoán đổi (swap space) chính là tổng số bộ nhớ ảo (virtual memory).
Việc swaping là cần thiết bởi 2 lý do là khi hệ thống yêu cầu một lượng bộ nhớ nhiều hơn mức RAM cho phép, chức năng hoán đổi của kernel sẽ đẩy bớt các pages được dùng ít hơn ra ngoài và gửi lượng bộ nhớ cho ứng dụng đang cần ngay lập tức. Thứ 2 là có một số pages quan trọng được sử dụng bởi một ứng dụng trong suốt quá trình startup, có thể chỉ được dùng cho khởi tạo thôi, sau đó không bao giờ dùng lại nữa, hệ thống có thể swap out những pages này ra, giải phóng bộ nhớ cho những ứng dụng khác, hoặc cho việc cache đĩa.
Tuy nhiên, swapping có một bất lợi. Tốc độ truy cập đĩa (milliseconds) chậm hơn từ 10 đến 1000 lần so với tốc độ truy cập RAM (nanoseconds). Thỉnh thoảng sẽ xảy ra sự trao đổi quá mức, kiểu như: một pages vừa được swapped out, ngay sau đó lại swapped in rồi lại swapped out và cứ thế. Trong trường hợp này, hệ thống vừa phải vật lộn để tìm những phần bộ nhớ rỗi, vừa phải giữa cho các ứng dụng kia vẫn chạy. Cách tốt nhất trong tình huống này là tăng RAM lên.